Chí sĩ Hoàng Trọng Mậu và giai thoại về dòng họ nổi tiếng văn chương
Trên dải đất miền Trung nắng gió, dòng họ Nguyễn Đức ở xứ Nghệ đã ghi dấu ấn vào lịch sử dân tộc bằng máu xương trong các cuộc kháng chiến và bằng cả những áng văn chương mẫu mực. Ở đó, chí sĩ Hoàng Trọng Mậu như một "cây cao bóng cả". Kỷ niệm 110 năm ngày ông hy sinh, cùng Nông thôn mới mở lại "hồ sơ" về một nhân cách lớn và giai thoại của dòng tộc có đến 7 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
Thân thế và sự nghiệp
Xã Cẩm Trường, tổng Kim Nguyên, nay là xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An là một miền quê nghèo khó nhưng nhưng nổi tiếng hiếu học và là cái nôi của các phong trào cách mạng. Nói đến vùng đất này thì không ai là không nhắc đến dòng họ Nguyễn Đức.
Dòng họ Nguyễn Đức được ghi trong các văn bảng xưa như một niềm tự hào của người dân xứ Nghệ.
Nhân vật chí sĩ nổi bật nhất của dòng họ phải kể đến là cụ Nguyễn Đức Công hay còn được vang danh cả nước với tên gọi là Chí Sĩ Hoàng Trọng Mậu. Cụ Nguyễn Đức Công tự là Báu Thụ, sinh năm 1874 (tuổi Giáp Tuất).
Thân phụ là cụ Nguyễn Đức Tân, đậu cử nhân, làm quan Hành Tẩu trong triều đình nhà Nguyễn - một nhà nho yêu nước từng tích cực hưởng ứng phong trào Cần Vương chống Pháp. Khi gặp cảnh nước mất nhà tan, triều đình rối ren, cụ bỏ quan về quê. Cụ là người có công lớn với dân làng nên khi còn sống được lập đền thờ sống (sinh từ). Gia đình của cụ có nhiều người khoa bảng, yêu nước và cách mạng.

Sinh thời cụ Hoàng Trọng Mậu được xem là người đặc biệt thông minh, trác việt, thông thạo cổ văn Trung Quốc. Cụ đỗ đầu trong kỳ thi toàn tỉnh Nghệ An khi mới chưa đầy 18 tuổi nên thời đó nhân dân gọi cụ là “Đầu xứ Công”. Vì ghét thế tục, nặng lòng yêu nước thương dân, và với khí phách của một con mảnh đất “Hoàng Mười” cụ không màng đến chuyện làm quan, chỉ ngày đêm mài trí, luyện tâm tìm đường cứu nước.
Gặp lúc Phong trào Đông Du nổi lên, cụ như gặp được chí hướng của mình. Cụ hăng hái tham gia từ những ngày đầu rất sớm. Vào mùa hè đỏ lửa năm 1908, cụ cương quyết chọn sang Quảng Đông rồi sau đó sang Nhật học trường Đông Á Đồng Văn Thư viện tại Tokyo để lại quê nhà người vợ đang mang thai cùng đàn con nhỏ. Cụ là người làm ghi chú và viết lời tựa cho cuốn Việt Nam Quốc Sử Khảo của Phan Bội Châu. Năm 1909.
Hiệp ước giữa Pháp và Nhật được ký kết. Theo đó, Pháp cho Nhật vào Việt Nam buôn bán; đối lại, Nhật không cho các nhà cách mạng và học sinh Việt nam lưu trú ở Nhật nữa. Sau khi bị trục xuất khỏi Nhật Bản, Hoàng Trọng Mậu sang học và tốt nghiệp Trường Võ ở Trung Quốc.
Năm 1912, cụ tham gia sáng lập Việt Nam Quang phục Hội, giữ chức Bí thư và Quân vụ Ủy viên (Ủy viên phụ trách quân sự). Thời gian này cụ Hoàng Trọng Mậu cùng với cụ Phan Bội Châu thảo ra "Việt Nam Quang Phục quân phương lược" (Đây được ví như một bộ sách chiến lược của nền cách mạng non trẻ lúc bấy giờ. Dịch là: Chiến lược cách mạng của Việt Nam Quang phục quân).
Thời kỳ này, Quang Phục hội phát hành tín phiếu ở Trung Quốc và Việt Nam bao gồm 4 loại: 5 - 10 - 20 và 100 đồng. Phía trên mặt trước có in hàng chữ “Việt Nam Quang Phục Quân Dụng phiếu” mặt sau có hàng chữ: “Phiếu này do quân Chính Phủ Lâm Thời của Việt Nam Quân Dụng Phiếu phát hành để đổi lấy thực ngân theo số tiền đã ghi trên. Sau này khi Chính Phủ thiết lập sẽ đem thực ngân đổi lại và trả gấp đôi” dưới ký tên Phan Bội Châu Và Hoàng Trọng Mậu. Có thể nói đây là một phương thức sử dụng tiền đóng góp của nhân dân xây dựng cách mạng theo một cách thức rất mới mà chỉ có những trí thức được du học ở nước ngoài mới tiếp cận cũng như áp dụng linh hoạt được.
Ở Trung Quốc, cách mạng Tân Hợi thoái trào, Viên Thế Khải làm Tổng thống Trung Hoa dân quốc thay Tôn Trung Sơn, Việt Nam Quang phục Hội lâm vào tình cánh vô cùng khó khăn. Phan Bội Châu bị bắt, trong hoàn cảnh đó, Hoàng Trọng Mậu vẫn tiếp tục kiên trì hoạt động. Cụ đã đến Quảng Tây tìm cách liên kết với lực lượng dân quân Trung Hoa vừa bị giải tán, nhằm chuẩn bị lực lượng cách mạng.
Tài liệu lịch sử cho biết, cụ Hoàng Trọng Mậu đã tập trung được một nhóm khoảng 200 người, có trang bị vũ khí cùng cụ Nguyễn Hải Thần có ý định tiến đánh các đồn lính Pháp ở biên giới để gây thanh thế. Tháng 3/1915 cụ Hoàng Trọng Mậu chỉ huy quân Cách mạng tấn công quân Pháp ở đồn Tà Lùng (cửa khẩu ở huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng) nhưng không thành. Lý do cụ chọn đánh đồn Tà Lùng vì hy vọng có nội gián của mình trong đồn làm nội ứng, nhưng phút chót nội gián bị đổi phiên gác nên trận đánh ấy đã thất bại. Nhiều chí sĩ của ta đã sa vào tay giặc Pháp.
Theo hồ sơ của mật thám Pháp hiện nay bà Nguyễn Thị Minh Thâm - con nhà Hán học Nguyễn Đức Vân, là cháu nội của cụ Hoàng Trọng Mậu đang lưu giữ được, ngày 5/5/1915, Vua Duy Tân ký một Sắc chỉ mật phong Hoàng Trọng Mậu làm Thống lĩnh tả quân kiêm Tống Tham mưu trưởng Quân đội Việt Nam, chuẩn bị tham gia cuộc khởi nghĩa do Vua Duy Tân phát động, dự kiến sẽ diễn ra vào năm 1916. Sắc chỉ này Pháp tìm thấy dưới gầm giường vua Duy Tân khi tìm bắt ông, và hiện được lưu giữ trong viện bảo tàng.
Trong một hội thảo lịch sử về sự nghiệp của Chí Sĩ Hoàng Trọng Mậu, nhà sử học Lê Văn Lan nói: “Rõ ràng đã có một đường dây bí mật cũng như một sự liên hệ mật thiết từ Quang Phục Hội đến vua Duy Tân. Ai là người đã chuyển những thông tin từ Vua Duy Tân đến Tổng Tham Mưu Trưởng Hoàng trọng Mậu? Cho đến hiện tại vẫn là một bí mật của dòng lịch sử”.
Sau khi trận đánh thất bại ngày 28/5/1915, trong khi đang ở nhà ga Hương Cảng đợi tàu đi Thái Lan để tiếp tục chuẩn bị thêm vũ khí cho hoạt động cách mạng, cụ Hoàng Trọng Mậu bị mật thám Pháp phát hiện và nhờ cảnh sát Anh bắt, chúng đưa cụ về giam ở Hỏa Lò - Hà Nội.
Trong thời gian bị giam cầm tại nhà tù Hỏa Lò, bị giặc Pháp tra tấn dã man và dụ dỗ xảo quyệt, nhưng chí sĩ Hoàng Trọng Mậu vẫn bền gan vững chí, không chịu khuất phục. Cụ nói rõ mục đích làm cách mạng của mình, nhưng tuyệt đối không khai báo về bí mật của tổ chức cách mạng. Đặc biệt là: Trong hồ sơ mật thám của Pháp hiện còn lưu giữ tại Cục Lưu trữ Quốc gia (Hà Nội) còn có bức thư cụ viết tại Hỏa Lò gửi Toàn quyền Đông Dương. Trong thư, cụ đã khảng khái nói lên lập trường cách mạng của mình; đồng thời có những lời lẽ đanh thép lên án chính sách cai trị của thực dân Pháp và vì sao dân Việt Nam không chịu khuất phục chính quyền Pháp.
Sau 8 tháng giam cầm tra tấn, kết hợp với dụ dỗ mua chuộc, thực dân Pháp không thể khuất phục được ý chí kiên cường của nhà chí sĩ yêu nước. Ngày 24/1/1916, chúng đã đưa cụ ra xử bắn tại trường bắn Bạch Mai. Lúc bị xử bắn cụ vẫn hiên ngang và để lại câu đối tuyệt mệnh trước họng súng kẻ thù:
Ái quốc hà cô! Duy hữu tinh thần lưu bất tử
Xuất sư vị tiệp, thả tương tâm sự thác lai sinh.
Dịch nghĩa:
Yêu nước tội gì, chỉ có tinh thần còn sống mãi
Ra
quân chưa thắng, xin đem tâm sự gửi mai sau.
Trong thế hệ cách mạng đầu thế kỷ 20, cụ Hoàng Trọng Mậu là một chí sĩ yêu nước tài danh, một trong những nhân vật chủ chốt của Việt Nam Quang Phục Hội. Cụ là sự kết hợp hài hòa giữa cốt cách tiết tháo, trung liệt của một nhà nho với sự can trường nghĩa hiệp của một bậc anh hùng yêu nước, một nhân cách lớn trong giới chí sĩ nước nhà. Cụ ra đi nhưng đã để lại nhiều di sản văn thơ tuyệt tác trong lịch sử văn học Cách mạng.
Năm
1926, khi đến giảng bài cho lớp học của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí
Hội tại Quảng Châu, Bác Hồ yêu quý của chúng ta đã hỏi thăm ông Trần Văn Cung
(Anh ruột Thượng tướng Trần Văn Quang, quê Nghi Lộc) về gia cảnh của Chí sĩ
Hoàng Trọng Mậu. Nghe xong Bác Hồ đã biểu lộ cảm xúc trân trọng tuyệt đối khi
nhắc đến tên mgười Cách mạng kiên trung. Bác nói: “Thế mới là anh hùng”.
Người đồng chí và ngôi mộ chung
Buổi sáng ngày 24/01/1916 đồng chí Hoàng Trọng Mậu bị xử bắn chung cùng đồng hương của mình là đồng chí Trần Hữu Lực (Nguyễn Thức Đường).
Đồng chí Trần Hữu Lực quê ở xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc. Ông là con cụ Nguyễn Thức Tự, một bậc đại sư của Nghệ An, được mệnh danh là Vạn Thế Sư Biểu. Các học trò của cụ là những danh sĩ yêu nước như: Phan Bội Châu, Nguyễn Sinh Sắc (thân phụ Bác Hồ)... Do vậy, hai người anh và em trai của đồng chí Nguyễn Thức Đường là Nguyễn Thức Canh, Nguyễn Thức Bao đều sớm tìm đường cứu nước trong phong trào Đông Du.
Đồng chí Nguyễn Thức Đường sang Quảng Đông, sau đó huấn luyện quân sự 03 năm ở Nhật. Năm 1912, tham gia Quang Phục Hội và tự nguyện sang Xiêm La để vận động tổ chức cho Hội. Sau một thời gian hoạt động đồng chí bị bắt, đưa về Hà Nội và bị xử bắn cùng đồng chí Hoàng Trọng Mậu. Hai nhà cách mạng được chôn chung một mộ.
Hiện tại, ngôi mộ chung này nằm ở xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc và là di tích văn hóa lịch sử của Tỉnh Nghệ An. Cách đây không lâu, năm 2023, hai dòng học Nguyễn Đức và Nguyễn Thức với sự giúp đỡ của chính quyền địa phương đã tôn tạo nên một tượng đài lớn trên mảnh đất 400m (được nhà nước cấp), không xa ngôi mộ chung, để kỉ niệm và lưu danh sự hy sinh của hai chiến sĩ Đông Du. Hiện tại, khu vực này là di tích văn hóa lịch sử của Tỉnh Nghệ An.
Những hậu duệ nổi tiếng của cụ Nguyễn Đức Công - Hoàng Trọng Mậu
Dòng họ Nguyễn Đức (Nghi Lộc – Nghệ An) được biết đến như một giai thoại của một dòng họ nổi tiếng phát Văn.
Quê hương Nghi Lộc cũng như Dòng họ Nguyễn Đức tự hào với những Người con ưu tú như:
Cụ Nguyễn Đức Vân (con trai cả của cụ Nguyễn Đức Công - Chí sĩ Hoàng Trọng Mậu) từng là Chủ tịch Việt Minh đầu tiên năm 1945 của xã Nghĩa Trung. Sau đó, cụ ra Viện Văn học là dịch giả chữ Hán uyên thâm. Cụ đã là tác giả của nhiều sách dịch như: Thơ văn Lý Trần, Hồng Lâu Mộng, Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn, Tùy Viên Thi Thoại…
Cụ Nguyễn Đức Tịnh (con trai thứ của cụ Nguyễn Đức Công - Chí sĩ Hoàng Trọng Mậu) là Bí thư Tân Việt ở Huế năm 1927, rồi sau bị Pháp bắt đi tù. Sau năm 1945 là lãnh đạo của 1 xưởng cơ khí của miền Trung. Hiện tại, ở Huế đều có những con phố mang tên 2 cha con Hoàng Trọng Mậu và con Nguyễn Đức Tịnh.
Cụ Nguyễn Đức Bính (con trai út của cụ Nguyễn Đức Công - Chí sĩ Hoàng Trọng Mậu) là 1 học giả uyên thâm, ông từng làm báo cùng Vũ Bằng, Ngô Tất Tố vào khoảng những năm 1930 của thế kỷ trước. Sau ông trở về Vinh làm Hiệu trưởng trường tư thục Lễ Văn và làm chủ bút 2 tờ báo bằng tiếng Pháp: Con vịt Sổ Lồng, và Gió Đông Gió Tây. Ông lợi dụng 2 tờ báo này để tuyên truyền Cách mạng cho tầng lớp Pháp kiều ở Đông Dương. Có thời gian ông làm Nghị viện Trung Kỳ.
Con trai đầu của cụ Nguyễn Đức Vân là Giáo sư Nguyễn Đức Đàn – Nguyên là Hiệu trưởng trường viết văn Nguyễn Du. Con rể là Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Đình Chú và con út là nhà thơ Anh Ngọc.
Con trai đầu cụ Nguyễn Đức Bính là ông Nguyễn Đức Giáp, nguyên Phó Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, con thứ là nhà văn, nhà xã hội học Nguyễn Chí Tình.
Dòng họ Nguyễn Đức còn đặc biệt
khi có 7 người trong dòng họ là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam… Và còn rất nhiều
con cháu trong dòng họ có tên tuổi trên văn đàn như: Nhà phê bình văn học Hoài
Thanh, Hoài Chân, nữ nhà thơ Thúy Bắc, giáo sư Nguyễn Đức Nam, dịch
giả văn học Phan Hồng Giang…
Nhân kỉ niệm 110 năm ngày hi sinh của Nhà Cách mạng Hoàng Trọng Mậu đất nước cũng như các thế hệ con cháu và mảnh đất quê hương Nghi Lộc vô cùng tự hào và biết ơn những bậc “khai sinh lập quốc” những bậc tiền bối kiên trung, những người con ưu tú đã dành cả cuộc đời cho nền độc lập của nước nhà.
Đảng và Nhà Nước đã khắc ghi tên nhà cách mạng kiên trung Hoàng Trọng Mậu trên những con phố xinh đẹp của Hà Nội - Sài Gòn - Vinh - Huế như một sự tri ân cho những cống hiến của người chí sĩ này với dân tộc.
Một con người!
Một nhân cách!
Một cuộc đời!
Đã trọn vẹn in dấu...
Và mãi mãi không phai trong dòng chảy lịch sử của đất nước!
Ngày 7/5/1954: Toàn bộ quân địch đầu hàng, Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng
Hồ sơ - Tư liệuĐến 24 giờ ngày 7/5/1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, trở thành “cột mốc vàng” của lịch sử dân tộc Việt Nam, là niềm tự hào của dân tộc và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Chiến thắng Điện Biên Phủ mang tầm vóc quốc tế đoàn kết các dân tộc thuộc địa
Hồ sơ - Tư liệuChiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam trước thực dân Pháp đã có sức ảnh hưởng mang tính quyết định đối với các dân tộc khác mà Algeria là một ví dụ.
Cần ghi đúng thời gian diễn ra Chiến dịch Điện Biên Phủ
Hồ sơ - Tư liệu(Tapchinongthonmoi.vn) - Nhân dịp kỷ niệm 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 – 7/5/2024), vào mạng internet để tìm hiểu về Chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi giật mình khi thấy có khá nhiều nhiều trang báo của Trung ương, các bộ, ngành, trường đại học và Đảng bộ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã đưa thông tin về thời gian diễn ra Chiến dịch Điện Biên Phủ rất khác nhau, có báo ghi là 55 ngày, có báo lại ghi là 56 ngày.











