Đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm công: Từ nghị quyết chiến lược đến hành động

Trần Hữu Trọng Chủ nhật, 18/01/2026 10:00 (GMT+7)

Trong những ngày trước thềm khai mạc Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang đứng trước yêu cầu tiếp tục nâng tầm tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế và đổi mới mô hình quản trị quốc gia nhằm đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới.

Trong những ngày trước thềm khai mạc Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang đứng trước yêu cầu tiếp tục nâng tầm tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế và đổi mới mô hình quản trị quốc gia nhằm đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới. Các nghị quyết chiến lược được Bộ Chính trị khóa XIII ban hành trong thời gian qua đã hình thành một chỉnh thể tư duy xuyên suốt, thể hiện tầm nhìn dài hạn của Đảng về phát triển đất nước nhanh và bền vững, dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hoàn thiện thể chế và hội nhập quốc tế chủ động, sâu rộng.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng dự kiến diễn ra trong thời gian 7 ngày, từ ngày 19/01/2026 đến ngày 25/01/2026.

Một yêu cầu có tính nguyên tắc là các nghị quyết của Đảng phải được tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, thông qua các thiết chế cụ thể của Nhà nước, tránh tình trạng chủ trương đúng nhưng chậm đi vào cuộc sống. Trong bối cảnh đó, hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm công (TTDVVLC), thiết chế trực tiếp tổ chức thực hiện kết nối cung-cầu lao động và giải quyết bảo hiểm thất nghiệp cần được nhìn nhận lại cả về vị trí, vai trò và phương thức hoạt động.

Bài viết vận dụng tinh thần và nội dung cốt lõi của 04 nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị gồm: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, qua đó làm rõ hướng tiếp cận nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống TTDVVLC trong giai đoạn mới.

1. Yêu cầu đổi mới thiết chế thực thi chính sách việc làm trong kỷ nguyên số

Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định rõ: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị Quốc gia”. Điều này đòi hỏi không chỉ ứng dụng công nghệ vào từng khâu nghiệp vụ, mà quan trọng hơn là đổi mới phương thức tổ chức và vận hành các thiết chế công trên nền tảng dữ liệu.

Đối với lĩnh vực việc làm và an sinh xã hội, thị trường lao động (TTLĐ) đang vận động ngày càng nhanh, linh hoạt, liên vùng, liên ngành, thậm chí xuyên quốc gia. Trong khi đó, hệ thống thông tin TTLĐ còn phân tán, thiếu tính liên thông, chưa phản ánh đầy đủ các dòng di chuyển lao động, đặc biệt là lao động phi chính thức, lao động di cư giữa các địa phương và lao động đi làm việc ở nước ngoài hoặc từ nước ngoài trở về. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải nâng cấp hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm công (TTDVVLC) từ mô hình cung ứng dịch vụ hành chính thuần túy sang mô hình lấy dữ liệu TTLĐ làm nền tảng, qua đó nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách việc làm, bảo hiểm thất nghiệp và các chính sách an sinh xã hội có liên quan.

2. TTDVVLC – lõi dữ liệu TTLĐ trong mô hình điều phối dọc hai cấp

Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia được xác định là đột phá chiến lược, việc tổ chức lại phương thức vận hành của hệ thống TTDVVLC cần được tiếp cận theo hướng điều phối thống nhất, dữ liệu tập trung, thực thi phân tán, bảo đảm vừa phát huy tính chủ động của địa phương, vừa hình thành năng lực quản trị TTLĐ ở tầm quốc gia. Theo đó, bên cạnh 34 TTDVVLC cấp tỉnh, tương ứng với 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là lực lượng trực tiếp tổ chức thực hiện chính sách việc làm, bảo hiểm thất nghiệp và cung cấp dịch vụ công cần có một đầu mối điều phối ở cấp trung ương với vai trò là trung tâm dữ liệu và điều phối hệ thống dịch vụ việc làm công, bảo đảm thống nhất về tiêu chuẩn dữ liệu, quy trình nghiệp vụ và hạ tầng số trên phạm vi toàn quốc.

Mô hình điều phối dọc này không làm phát sinh cơ quan hành chính mới, không thay đổi tính chất pháp lý của các TTDVVLC là đơn vị sự nghiệp công lập, mà nhằm đáp ứng yêu cầu mà Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra về “xây dựng và dùng chung các nền tảng số quốc gia, vùng, đảm bảo hoạt động thống nhất, liên thông các nghành, lĩnh vực trên môi trường số”. Thông qua cơ chế điều phối thống nhất, dữ liệu TTLĐ từ các địa phương được tích hợp, phân tích và khai thác hiệu quả, khắc phục tình trạng phân tán, cục bộ, manh mún.

Ở cấp cơ sở, xã, phường và các điểm dịch vụ vệ tinh giữ vai trò thu thập dữ liệu gốc về việc làm, thất nghiệp, biến động lao động, nhất là lao động phi chính thức và lao động di cư. Đây là tầng dữ liệu nền, phản ánh trực tiếp nhịp đập của TTLĐ tại cộng đồng dân cư, tạo cơ sở để các TTDVVLC cấp tỉnh tổ chức kết nối việc làm, đào tạo lại lao động và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp một cách sát thực tiễn.

Chậm nhất tới ngày 1/7/2026 từ trung ương tới địa phương phải hoàn thiện việc sắp xếp vị trí việc làm cho cán bộ, công chức. Ảnh: NT

3. Hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực tổ chức thi hành pháp luật

Nghị quyết số 66-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu “Ưu tiên đảm bảo hiệu quả thi hành pháp luật nhắm thúc đẩy phát triển Kinh tế- Xã hội, công nghệ, đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số”. Đối với hệ thống TTDVVLC, yêu cầu này đặt ra không chỉ ở việc hoàn thiện quy định pháp luật, mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực tổ chức thực hiện trên nền tảng dữ liệu số. Khi dữ liệu TTLĐ được chuẩn hóa, liên thông và cập nhật kịp thời, việc tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp, kết nối việc làm, đào tạo và đào tạo lại lao động sẽ minh bạch, chính xác và hiệu quả hơn, qua đó góp phần nâng cao niềm tin của người lao động và doanh nghiệp đối với các chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước.

4. Khu vực kinh tế tư nhân đồng hành cùng Nhà nước trong phát triển TTLĐ

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Trong lĩnh vực TTLĐ, yêu cầu đặt ra không phải là thay thế vai trò của Nhà nước, mà là phát huy sự đồng hành của khu vực kinh tế tư nhân trên cơ sở Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, điều phối và dẫn dắt bằng thể chế và dữ liệu.

Trên nền tảng hệ thống TTDVVLC được tổ chức như lõi dữ liệu của TTLĐ, khu vực kinh tế tư nhân có điều kiện tham gia sâu vào các hoạt động kết nối việc làm, tuyển dụng, đào tạo và phát triển các dịch vụ số hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp. Việc đồng hành này được thực hiện trong khuôn khổ dữ liệu TTLĐ được chuẩn hóa, liên thông và điều phối thống nhất, qua đó bảo đảm tính minh bạch, đồng bộ và hiệu quả của thị trường.

Về đào tạo và đào tạo lại lao động, dữ liệu dự báo nhu cầu kỹ năng nghề của hệ thống TTDVVLC là căn cứ quan trọng để các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp tư nhân tham gia tổ chức đào tạo phù hợp với yêu cầu của thị trường. Cách tiếp cận này vừa phát huy được tính linh hoạt, năng động của khu vực tư nhân, vừa bảo đảm định hướng của Nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực. Đối với ứng dụng công nghệ và nền tảng số, khu vực kinh tế tư nhân đồng hành cùng Nhà nước trong việc phát triển các giải pháp kỹ thuật, dịch vụ hỗ trợ kết nối việc làm, trên cơ sở kiến trúc và tiêu chuẩn dữ liệu thống nhất do Nhà nước điều phối. Qua đó, tránh tình trạng phân mảnh thông tin, cạnh tranh không lành mạnh và bảo đảm dữ liệu TTLĐ phục vụ mục tiêu quản lý và an sinh xã hội.

Trong nhiều năm, Hội Nông dân Phù Cừ (Hưng Yên) luôn là địa chỉ tin cậy của Sở Khoa học công nghệ, Hội Nông dân tỉnh, các ngành, các công ty, trạm trại để triển khai các lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật, xây dựng mô hình. Ảnh: Kiều Tâm

Việc xác lập mối quan hệ đồng hành giữa Nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân trong phát triển TTLĐ là cách tiếp cận phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 66-NQ/TW góp phần hình thành TTLĐ hiện đại, minh bạch và phát triển bền vững. Bên cạnh đó, Nghị quyết số 59-NQ/TW đã nhấn mạnh việc tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ và phát triển nhân lực, nên cần tham gia và thích ứng với các dòng di chuyển lao động quốc tế. Điều này đòi hỏi hệ thống thông tin TTLĐ phải từng bước phản ánh đầy đủ các luồng lao động vào, ra Việt Nam, phục vụ quản lý nhà nước và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống TTDVVLC là yêu cầu có tính chiến lược trong tổ chức thực hiện các nghị quyết lớn của Đảng về phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Việc xác lập vai trò lõi dữ liệu TTLĐ cho hệ thống này không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà là bước chuyển quan trọng về tư duy thể chế và phương thức quản trị.

Trước thềm tổ chức Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, việc nhìn thẳng vào các thiết chế thực thi, mạnh dạn đổi mới phương thức vận hành và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện chính sách việc làm, an sinh xã hội là yêu cầu cấp thiết. Đây chính là con đường để các nghị quyết chiến lược của Đảng thực sự đi vào cuộc sống, góp phần xây dựng TTLĐ động hiện đại, bao trùm và bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới.

(*): Đảng viên, Chi bộ Trung tâm Quốc gia về Dịch vụ việc làm, Đảng bộ Cục Việc làm, Đảng bộ Bộ Nội vụ.

Giữ đất lúa nhưng không trói người trồng lúa (Bài 3)

Giữ đất lúa nhưng không trói người trồng lúa (Bài 3)

Đất trồng lúa giữ vai trò đặc biệt với an ninh lương thực và sinh kế nông dân. Tuy nhiên, nếu ruộng lúa chỉ mang lại thu nhập thấp thì việc giữ đất khó bền lâu. Nghị định 112/2024/NĐ-CP đang hướng tới cách quản lý chặt nhưng không cứng nhắc, đồng thời mở đường cho các mô hình sản xuất linh hoạt, nâng hiệu quả canh tác trên cùng thửa ruộng. Để người trồng lúa có thể tăng thu nhập ngay trên chính thửa ruộng của mình.

Khi người dân bớt “chạy giấy”, có thêm thời gian lo ruộng đồng (Bài 2)

Khi người dân bớt “chạy giấy”, có thêm thời gian lo ruộng đồng (Bài 2)

Thủ tục đất đai rườm rà từng khiến không ít nông dân ngại chuyển đổi, dồn đổi ruộng đất. Với Nghị định 151/2025/NĐ-CP, nhiều khâu trung gian được cắt giảm, trách nhiệm được phân định rõ hơn giữa các cấp chính quyền. Khi hồ sơ bớt vòng vo, người dân có thêm thời gian và tâm trí cho sản xuất.

Chính sách đất nông nghiệp mới - từ luật đến ruộng đồng: Người dân bớt gánh, ruộng đồng thêm lực (Bài 1)

Chính sách đất nông nghiệp mới - từ luật đến ruộng đồng: Người dân bớt gánh, ruộng đồng thêm lực (Bài 1)

Từ năm 2026, thuế sử dụng đất nông nghiệp tiếp tục được miễn đến hết năm 2030 theo Nghị định 292/2025/NĐ-CP. Trong bối cảnh chi phí vật tư, nhân công tăng cao, chính sách này giúp người làm nông giảm bớt một khoản chi, có thêm điều kiện đầu tư cho sản xuất và gắn bó lâu dài với ruộng đất.