Góc nhìn Đại lý: Vì sao nhà nông tin dùng phân bón Văn Điển suốt nhiều thập kỷ?
Không chỉ là câu chuyện năng suất, chất lượng sản phẩm, việc lựa chọn sử dụng phân bón Văn Điển của phần lớn nông dân còn dựa trên khả năng cải tạo đất trong nhiều năm, đồng thời phải hợp túi tiền cũng như phương thức thanh toán của họ.
Để hiểu rõ hơn về sự đánh giá của nhà nông đối với phân bón Văn Điển trên thị trường hiện nay, Nông thôn mới đã có cuộc trò chuyện trực tiếp với ông Lưu Thanh Tân - Chủ Đại lý phân bón Tân Loan, khu 7, xã Cao Phong, "thủ phủ" cam của tỉnh Phú Thọ.
Thưa ông, là đơn vị cung ứng vật tư nông nghiệp lâu năm, ông đánh giá thế nào về vị thế của phân bón Văn Điển so với các dòng sản phẩm khác trên thị trường hiện nay?
- Ở đất Cao Phong này, phân bón Văn Điển có một chỗ đứng rất riêng, gần như hầu hết nông dân biết và tin dùng. Đỉnh cao nhất là vào những năm 2010, Đại lý chỗ tôi phân phối mỗi năm cỡ khoảng 4.000 – 5.000 tấn cho các hộ gia đình trồng cam, chanh, mía… tại địa phương.
Điểm khác biệt lớn nhất của phân bón Văn Điển với các sản phẩm khác là tính ổn định. Có những thương hiệu mới ra quảng cáo rất rầm rộ, chiết khấu cao, nhưng nông dân họ chỉ dùng thử một mùa, nếu không hiệu quả là họ bỏ ngay. Riêng với phân bón Văn Điển, khách hàng của tôi đa số là khách quen, dùng từ đời cha sang đời con. Họ tin tưởng vào chất lượng bên trong hơn là vỏ hộp bóng bẩy.

Điều gì khiến ông yên tâm nhất khi kinh doanh dòng phân bón này?
- Đó là sự minh bạch và uy tín. Phân lân nung chảy hay NPK Văn Điển có đặc tính là tan chậm, không bị nước rửa trôi, rất phù hợp với thổ nhưỡng đất chua mặn hay đất dốc ở ta. Khi bán cho bà con, mình không lo bị phản ánh là "phân giả" hay "phân kém chất lượng" vì tỷ lệ canxi trong phân rất cao, hiệu quả nhìn thấy rõ trên đồng ruộng như: Cây cứng, lá xanh bền chứ không xanh mướt rồi lụi nhanh như các loại phân bón lá khác.
Điểm khác biệt lớn nhất của phân bón Văn Điển với các sản phẩm khác là tính ổn định. Có những thương hiệu mới ra quảng cáo rất rầm rộ, chiết khấu cao, nhưng nông dân họ chỉ dùng thử một mùa, nếu không hiệu quả là họ bỏ ngay. Riêng với phân bón Văn Điển, khách hàng của tôi đa số là khách quen, dùng từ đời cha sang đời con. Họ tin tưởng vào chất lượng bên trong hơn là vỏ hộp bóng bẩy.
Số lượng bán ra của Đại lý phân bón Tân Loan trong năm 2025 là bao nhiêu thưa ông?
-Trong năm 2025, vùng đất cam Cao Phong có nhiều biến động, diện tích trồng cam thu hẹp hơn so với những năm trước. Ngoài ra có rất nhiều loại phân bón mới trên thị trường nên việc tiêu thụ phân bón Văn Điển có phần kém hơn, do đó số lượng tôi phân phối chỉ đạt khoảng 500 – 600 tấn phân/năm. Tuy nhiên, tại cửa hàng của tôi, phân bón Văn Điển luôn chiếm khoảng một nửa để bán cho bà con, thậm chí có thời điểm không có mà bán vì hàng từ Công ty không lên kịp.

Khách hàng đánh giá như thế nào về sản phẩm mà ông phân phối?
-Tại Cao Phong, nông dân chủ yếu trồng cam, chanh, mía, ngô, lúa… trong đó cây cam và mía là 2 loại cây trồng chủ lực. Bà con nông dân đã sử dụng phân bón Văn Điển từ rất lâu (khoảng từ những năm 2000) và đại đa số đều có phản hồi tích cực, tin dùng cho đến nay. Phần lớn ý kiến đánh giá tích cực rằng phân bón Văn Điển có tỷ lệ canxi cao, có tác dụng khử chua, phù hợp với cây cam (vốn ưa đất có tính kiềm). Ngoài ra, lân Văn Điển còn có đủ các chất dinh dưỡng trung và vi lượng. Trong thâm canh cam, các chất này rất cần thiết. Thường thì các vùng trồng cam lâu năm nếu không được bổ sung dinh dưỡng, đất sẽ nghèo dần các chất dinh dưỡng nói trên.
Mong muốn của tôi là Công ty nên tăng thêm nhân viên thị trường để quảng bá sản phẩm cũng như là kịp thời giải đáp những thắc mắc cho người dân cũng như phía đại lý. Rất mong công ty đảm bảo được nguồn cung kịp thời cho các đại lý nằm ở khu vực các tỉnh miền núi Tây Bắc để chúng tôi phục vụ nhu cầu của nhà nông.

Từ xưa đến nay, tôi chỉ dùng phân bón Văn Điển
Tôi làm ruộng, làm vườn mấy chục năm rồi, dùng đủ loại phân, nhưng với phân Văn Điển, tôi ưng nhất là nó "lành". Các loại phân hóa học khác, bón vào đất nhanh tốt thật đấy, nhưng đất cứ chai cứng dần, năm sau lại phải bón nhiều hơn năm trước. Còn dùng lân Văn Điển, đất tơi xốp hơn hẳn, độ chua (pH) trong đất được cải thiện rõ rệt. Bởi vậy mà từ xưa đến nay tôi chỉ biết đến phân bón Văn Điển, không dùng loại nào khác, bà con quanh xóm cũng vậy.
Nhiều người bảo phân này tan chậm là không tốt, nhưng thực ra đó mới là ưu điểm. Nó nhả dưỡng chất từ từ, cây hấp thụ đến đâu dùng đến đó, không bị mưa rửa trôi lãng phí. Ngoài ra, cây trồng ít sâu bệnh, đổ ngã, cây ăn quả thì ngọt và đậm vị hơn. Vì cây khỏe nên ít sâu bệnh, tôi đỡ được một khoản tiền thuốc bảo vệ thực vật đáng kể. Đó mới là cái “lãi” lớn nhất của nhà nông chúng tôi.
Ông Nguyễn Văn Dũng (Xóm Tiềng, xã Thung Nai, Phú Thọ)
Sáng kiến “tiết kiệm nghìn tỷ” cho ngành Nông nghiệp
Góc nhìn(Tapchinongthonmoi.vn) - Sinh ra và lớn lên ở làng quê, không đành lòng trước cảnh được mùa mất giá, anh Lương Văn Trường, sinh năm 1990, ở xã Nghĩa Trung, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định đã quyết định thi vào Trường Đại học Đà Lạt theo học ngành Công nghệ sau thu hoạch và tốt nghiệp năm 2011. Ra trường, anh quyết định theo đuổi đam mê làm ruộng và đã có sáng kiến giúp tiết kiệm khoảng hơn 3.000 tỉ đồng cho ngành Nông nghiệp.
Bình Thuận: Làm giàu từ mô hình trồng dâu nuôi tằm và nuôi chồn hương tại xã Đức Tín
Góc nhìnTại xã Đức Tín, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận đã có nhiều nông dân làm giàu từ các mô hình phát triển trồng trọt, chăn nuôi. Tiêu biểu có thể kể đến các mô hình của ông Phạm Văn Quyết với nghề trồng dâu nuôi tằm và ông Phạm Ngọc Bồi với mô hình nuôi chồn hương. Hiệu quả của 2 mô hình này đã khiến cho nhiều người đến học hỏi và làm theo.
Huyện Đức Trọng: Phấn đấu thu nhập bình quân của người dân khu vực nông thôn đạt gấp 2,5 - 3 lần
Góc nhìnHuyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng sẽ hướng phát triển nền nông nghiệp đa giá trị mang lại hiệu quả kinh tế cao đến năm 2030, trong đó, phấn đấu giai đoạn 2025 - 2030 ngành Nông nghiệp huyện Đức Trọng đạt tốc độ tăng trưởng bình quân từ 6 - 6,5%/năm; thu nhập bình quân của người dân khu vực nông thôn đạt gấp 2,5 - 3 lần năm 2020; hình thành 10 chuỗi liên kết quy mô lớn đối với các mặt hàng chủ lực.











