Hơn 3 triệu ha rừng xã quản lý: Cơ hội “tỷ đô” từ tín chỉ carbon bị bỏ ngỏ
Việt Nam đang sở hữu gần 15 triệu ha rừng với tiềm năng hấp thụ khoảng 50 – 60 triệu tấn CO₂ mỗi năm, một nguồn tài nguyên khổng lồ trong bối cảnh thị trường tín chỉ carbon toàn cầu đang tăng trưởng mạnh mẽ. Thế nhưng, hơn 3,07 triệu ha trong số đó (tương đương hơn 20% tổng diện tích rừng cả nước) đang nằm trong tình trạng "không có chủ thực sự", khiến cơ hội tiếp cận hàng tỷ USD từ thị trường carbon tiếp tục bị bỏ ngỏ.
20% diện tích rừng quốc gia đang "trôi nổi"
Theo Quyết định số 1106/QĐ-BNNMT ngày 31/3/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về công bố, hiện trạng rừng năm 2025 (tính đến ngày 31/12/2025) tổng diện tích rừng cả nước đạt 14.971.553 ha, tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc đạt 42,03%. Trong số đó, diện tích rừng do UBND cấp xã quản lý là 3.072.633 ha, chiếm 20,51% tổng diện tích rừng toàn quốc.
Số liệu được tổng hợp trong báo cáo nghiên cứu của Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam công bố tại hội thảo ngày 4/6/2026, diện tích rừng do UBND xã quản lý liên tục biến động trong giai đoạn 2019 – 2025: Tăng từ gần 2,99 triệu ha năm 2019 lên đỉnh điểm 3,42 triệu ha năm 2022, sau đó giảm dần xuống còn 3,07 triệu ha vào cuối năm 2025.
Kết quả tổng hợp báo cáo từ 13 tỉnh trong nghiên cứu cho thấy, phần lớn diện tích rừng do UBND xã quản lý là rừng nghèo và rừng phục hồi. Tại nhiều địa phương như Gia Lai, Cao Bằng, Lai Châu, Nghệ An, Tuyên Quang, tỷ lệ rừng nghèo dao động từ khoảng 70% đến trên 90%, trong khi rừng giàu chiếm tỷ lệ không đáng kể. Riêng tại Cao Bằng, rừng nghèo chiếm tới 92,83% tổng diện tích rừng do UBND xã quản lý, trong khi rừng giàu chỉ chiếm 0,32%.

Tiềm năng carbon lớn, nhưng không thể chạm tới
Bất chấp chất lượng rừng thấp, tiềm năng hấp thụ carbon của khối diện tích này vẫn rất đáng kể. Theo FAO, rừng Việt Nam có khả năng hấp thụ khoảng 50–60 triệu tấn CO₂ mỗi năm. Với giá tín chỉ carbon rừng trên thị trường quốc tế hiện dao động ở nhiều mức khác nhau tùy cơ chế và chất lượng dự án, tiềm năng kinh tế từ nguồn tài nguyên này có thể tạo ra nguồn thu đáng kể cho ngân sách địa phương và sinh kế người dân.
Thế nhưng, để tham gia thị trường carbon, điều kiện tiên quyết là phải xác định rõ quyền sở hữu rừng, cơ chế chia sẻ lợi ích và hệ thống giám sát, đo đạc, báo cáo carbon (MRV) minh bạch. Đây chính là điểm mấu chốt mà 3 triệu ha rừng xã quản lý đang thiếu hoàn toàn.
"UBND cấp xã quản lý rừng với tư cách cơ quan quản lý nhà nước, không phải là chủ rừng theo nghĩa pháp lý và kinh tế. Điều đó khiến cộng đồng dân cư và các tổ chức tại địa phương không đủ tư cách pháp nhân để tham gia các giao dịch trên thị trường carbon. Khi không được công nhận quyền quản lý, sử dụng rừng một cách hợp pháp và ổn định, các cộng đồng không thể ký kết các thỏa thuận mua bán giảm phát thải có giá trị pháp lý với các đối tác trong và ngoài nước", Ths. Nguyễn Văn Tiến, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam nêu rõ.
Hệ quả là Việt Nam đang bỏ lỡ cơ hội tiếp cận các chương trình tài chính khí hậu quốc tế như REDD+, LEAF, FCPF hay các quỹ carbon tự nguyện – những nguồn lực vốn có thể trở thành động lực mạnh mẽ cho bảo vệ và phát triển rừng bền vững.

Quản lý nhiều, hưởng lợi không tương xứng
Ngay cả với cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) vốn đã vận hành nhiều năm, diện tích rừng do UBND xã quản lý vẫn thường xuyên bị gạt ra ngoài vòng hưởng lợi.
Tại hội thảo ngày 4/6/2026, Chủ tịch UBND xã Nậm Lầu (tỉnh Sơn La) Cầm Bun Lộc dẫn số liệu thực tế từ địa phương khi toàn xã có tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp lên tới 15.188,96 ha, nhưng nguồn thu DVMTR chỉ bao phủ được 797,81 ha. Sự phân bổ cũng có sự chênh lệch giữa các thôn bản, cụ thể là tại Bản Xa Hòn được chi trả cho 194,42 ha, Bản Pọng chỉ nhận được chi trả cho 0,5 ha. "Cùng chung trách nhiệm bảo vệ nhưng mức hưởng lợi chênh lệch quá lớn đang làm triệt tiêu động lực giữ rừng của nhân dân", ông Cầm Bun Lộc thẳng thắn nhận xét.

Thực trạng này phù hợp với đánh giá của tổ chức Forest Trends: Việc thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích từ tài nguyên rừng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hiệu quả quản lý rừng thấp tại nhiều quốc gia đang phát triển. Nghịch lý là chính quyền cấp xã phải chịu trách nhiệm quản lý và bảo vệ rừng, nhưng lại không có nguồn lực kinh tế tương xứng để thực hiện nhiệm vụ này.
Khoảng trống pháp lý – rào cản cốt lõi
Nhìn vào khung pháp lý hiện hành, Điều 102 Luật Lâm nghiệp 2017 quy định UBND cấp xã có trách nhiệm quản lý rừng chưa giao cho tổ chức, hộ gia đình hoặc cộng đồng.
Để được cấp tín chỉ carbon, một khu rừng phải đáp ứng đồng thời ba nhóm điều kiện chặt chẽ: Về pháp lý (có hồ sơ quyền sử dụng đất rõ ràng, nằm trong quy hoạch lâm nghiệp được phê duyệt, không trùng lặp với chương trình khác); về kỹ thuật (chứng minh được hoạt động hấp thụ carbon bổ sung, xác định được mức phát thải tham chiếu, chủ rừng cam kết bảo vệ trong 10–30 năm); và phải được thẩm định, cấp tín chỉ bởi đơn vị độc lập trước khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp mã số tín chỉ trên hệ thống đăng ký quốc gia.
Với 3 triệu ha rừng do UBND xã quản lý hiện không có đầy đủ hồ sơ pháp lý về quyền sử dụng đất, không có ranh giới được cắm mốc ngoài thực địa, và người "quản lý" không phải chủ rừng theo nghĩa pháp lý – tất cả các điều kiện trên đều không thể đáp ứng.
Kết quả rà soát bằng ảnh vệ tinh tháng 1/2026 do nhóm chuyên gia Viện Sinh thái rừng và Môi trường (Trường Đại học Lâm nghiệp) thực hiện tại 6 xã nghiên cứu còn phát lộ thêm một vấn đề nghiêm trọng: Có sự chênh lệch lên tới 4.421,5 ha giữa số liệu công bố hiện trạng rừng (14.872,88 ha) và kết quả rà soát thực địa (10.451,38 ha). Sai lệch này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khi chưa cập nhật biến động sau thu hồi và giao lại, phân loại trạng thái rừng chưa sát thực tế, ranh giới chưa được cắm mốc ngoài thực địa. Tình trạng này làm giảm nghiêm trọng độ tin cậy của cơ sở dữ liệu – điều kiện bắt buộc để tham gia bất kỳ cơ chế tài chính carbon nào.
Lối ra nào cho 3 triệu ha rừng?
Các chuyên gia tại hội thảo đều thống nhất rằng, giải pháp căn cơ phải bắt đầu từ việc xác lập chủ rừng thực sự thông qua đẩy nhanh giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư, hộ gia đình và các tổ chức có năng lực quản lý thực chất.
Thạc sĩ Bùi Giang Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách chiến lược Trung ương, nhấn mạnh: "Thương mại hóa tín chỉ carbon là xu thế tất yếu. Nguồn lực này sẽ quay vòng để chi phí trực tiếp cho người giữ rừng, biến rừng thành một "ngân hàng xanh" thực sự. Nhưng muốn làm được điều đó, rừng phải có chủ, chủ phải có quyền".

Về phía địa phương, Chủ tịch UBND xã Nậm Lầu Cầm Bun Lộc đề xuất thí điểm xây dựng hồ sơ carbon cho 1.642,15 ha rừng trực tiếp do xã quản lý, đồng thời kiến nghị cho phép thiết lập cơ chế "Quỹ điều tiết xanh" cấp xã để phân bổ lại nguồn thu DVMTR công bằng hơn giữa các thôn bản.
Trong khi đó, báo cáo nghiên cứu của Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam kiến nghị Chính phủ sớm xây dựng Đề án quốc gia "3 triệu ha rừng có chủ thực sự" với lộ trình rõ ràng đến năm 2030, bao gồm: Rà soát pháp lý toàn bộ diện tích, đo đạc số hóa đồng bộ, cắm mốc ranh giới ngoài thực địa, xử lý dứt điểm tình trạng lấn chiếm lịch sử và giao đất giao rừng gắn với cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời, cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý về đo đạc, cấp chứng nhận và vận hành thị trường tín chỉ carbon rừng trong nước, đồng bộ với các cơ chế quốc tế.
Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Trong bối cảnh đó, mỗi năm trôi qua mà 3,07 triệu ha rừng tiếp tục tồn tại trong tình trạng thiếu chủ pháp lý, thiếu dữ liệu tin cậy và thiếu cơ chế hưởng lợi rõ ràng, không chỉ là sự lãng phí tài nguyên quốc gia, mà còn là cơ hội lớn từ thị trường carbon đang dần tuột khỏi tầm tay.
Sáng kiến “tiết kiệm nghìn tỷ” cho ngành Nông nghiệp
Góc nhìn(Tapchinongthonmoi.vn) - Sinh ra và lớn lên ở làng quê, không đành lòng trước cảnh được mùa mất giá, anh Lương Văn Trường, sinh năm 1990, ở xã Nghĩa Trung, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định đã quyết định thi vào Trường Đại học Đà Lạt theo học ngành Công nghệ sau thu hoạch và tốt nghiệp năm 2011. Ra trường, anh quyết định theo đuổi đam mê làm ruộng và đã có sáng kiến giúp tiết kiệm khoảng hơn 3.000 tỉ đồng cho ngành Nông nghiệp.
Bình Thuận: Làm giàu từ mô hình trồng dâu nuôi tằm và nuôi chồn hương tại xã Đức Tín
Góc nhìnTại xã Đức Tín, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận đã có nhiều nông dân làm giàu từ các mô hình phát triển trồng trọt, chăn nuôi. Tiêu biểu có thể kể đến các mô hình của ông Phạm Văn Quyết với nghề trồng dâu nuôi tằm và ông Phạm Ngọc Bồi với mô hình nuôi chồn hương. Hiệu quả của 2 mô hình này đã khiến cho nhiều người đến học hỏi và làm theo.
Huyện Đức Trọng: Phấn đấu thu nhập bình quân của người dân khu vực nông thôn đạt gấp 2,5 - 3 lần
Góc nhìnHuyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng sẽ hướng phát triển nền nông nghiệp đa giá trị mang lại hiệu quả kinh tế cao đến năm 2030, trong đó, phấn đấu giai đoạn 2025 - 2030 ngành Nông nghiệp huyện Đức Trọng đạt tốc độ tăng trưởng bình quân từ 6 - 6,5%/năm; thu nhập bình quân của người dân khu vực nông thôn đạt gấp 2,5 - 3 lần năm 2020; hình thành 10 chuỗi liên kết quy mô lớn đối với các mặt hàng chủ lực.











