Tết và nhu cầu trở về của con người hiện đại (Bài cuối)

Bài, ảnh: Mộc Lam Thứ năm, 19/02/2026 13:43 (GMT+7)

Vấn đề của Tết hiện đại không nằm ở chỗ “còn” hay “mất”, mà ở chỗ con người có còn nhận diện đúng những giá trị làm nên ý nghĩa sâu xa của Tết hay không. Khi những giá trị ấy mờ đi, Tết dễ trở thành gánh nặng hình thức hoặc một kỳ nghỉ rỗng về tinh thần.

Sau khi hình thành từ nền văn minh lúa nước và trải qua những biến đổi sâu sắc dưới tác động của đô thị hóa, kinh tế thị trường và dịch chuyển lao động, Tết Việt đang đứng trước một yêu cầu không thể tránh khỏi: phải tiếp tục tồn tại trong một thế giới đã khác rất nhiều so với bối cảnh sinh ra nó. Nhưng tồn tại bằng cách nào, trong hình thức nào, và với những giá trị gì - đó mới là câu hỏi cốt lõi.

Nhìn lại lịch sử, có thể thấy Tết chưa bao giờ là một thực thể bất biến. Từ một lễ hội gắn chặt với mùa vụ và chu kỳ tự nhiên, Tết dần trở thành một không gian văn hóa - xã hội rộng lớn, bao trùm các mối quan hệ gia đình, cộng đồng, tín ngưỡng và đạo lý. Mỗi lần xã hội thay đổi, Tết lại dịch chuyển theo, chậm rãi nhưng bền bỉ.

Văn hóa tín ngưỡng là một điều không thể thiếu trong dịp Tết.  

Dù hình thức đón Tết đã thay đổi đáng kể, nhiều khảo sát xã hội cho thấy người Việt vẫn xem Tết là thời điểm quan trọng nhất trong năm để quay về với gia đình. Sự sum họp, dù ngắn hay dài, vẫn là mong muốn chung của đa số người dân. Việc thờ cúng tổ tiên, chúc Tết người lớn tuổi, gặp gỡ họ hàng - dù giản lược - vẫn giữ vai trò trụ cột.

Ở tầng sâu nhất, Tết là khoảng thời gian con người tạm rời khỏi guồng quay mưu sinh để trở về với các mối quan hệ nền tảng: gia đình, cội nguồn và chính bản thân mình. Trong một xã hội càng phát triển, càng cạnh tranh, nhu cầu được “trở về” ấy không hề suy giảm, mà trái lại, trở nên rõ nét hơn.

Ông Đức Huy, phường Nam Từ Liêm (Hà Nội) từng chia sẻ: “Tết không mất giá trị vì thay đổi hình thức. Nó chỉ mất giá trị khi con người không còn hiểu vì sao mình cần Tết”. Câu nói ấy gợi ra một tiêu chí quan trọng: giữ Tết không phải là giữ nghi thức, mà là giữ lý do tồn tại của nghi thức.

Một trong những thách thức lớn nhất của Tết hiện đại là nguy cơ bị đẩy lệch khỏi chức năng vốn có, để trở thành áp lực. Áp lực chi tiêu, biếu xén, hình thức lễ nghi đôi khi khiến Tết trở thành nỗi lo, đặc biệt với người lao động có thu nhập thấp hoặc bấp bênh.

Việc cố gắng “giữ Tết như xưa” trong khi điều kiện sống đã thay đổi có thể tạo ra sự lệch pha giữa truyền thống và thực tế. Khi truyền thống bị hiểu như một tập hợp những việc “phải làm”, thay vì những giá trị “cần giữ”, Tết dễ đánh mất ý nghĩa nghỉ ngơi và hàn gắn vốn có.

Anh Nguyễn Văn An, công nhân tại khu công nghiệp Ngọc Hồi, chia sẻ: “Tết vui nhất là được nghỉ và về với gia đình. Nhưng nhiều khoản chi tiêu quá làm Tết trở thành áp lực hơn là mong đợi”. Những chia sẻ như vậy cho thấy, nếu không được điều chỉnh, Tết có thể phản tác dụng với chính những người cần nó nhất.

Giữ Tết trong bối cảnh hiện đại không đồng nghĩa với việc giữ nguyên mọi phong tục. Ngược lại, việc lựa chọn điều gì cần giữ, điều gì có thể giản lược đòi hỏi sự tỉnh táo và hiểu biết về bản chất văn hóa.

Nhiều nghi lễ có thể được thu gọn, thậm chí thay đổi hình thức, nhưng ý nghĩa cần được giải thích và truyền đạt. Khi thế hệ trẻ hiểu vì sao có bánh chưng, vì sao thờ cúng tổ tiên, vì sao có những kiêng kỵ đầu năm, họ sẽ không tiếp nhận Tết như một nghĩa vụ, mà như một lựa chọn có ý thức.

Những mô hình giáo dục trải nghiệm Tết tại trường học, bảo tàng, làng nghề đang cho thấy hiệu quả tích cực. Thay vì yêu cầu “làm theo”, các hoạt động này tạo cơ hội để người trẻ tự khám phá và đặt câu hỏi về truyền thống, từ đó hình thành mối quan hệ chủ động hơn với Tết.

“Khi hiểu ý nghĩa của Tết, mình thấy việc giữ hay thay đổi không còn là mâu thuẫn. Nó chỉ là lựa chọn phù hợp với hoàn cảnh sống của mình”. Em Nguyễn Linh Nhi, sinh viên ngành kinh tế, chia sẻ.

Tết là khoảng thời gian tiêu thụ các sản phẩm của nhiều ngành nghề.  

Trong bối cảnh kinh tế thị trường, Tết không chỉ là không gian văn hóa, mà còn là thời điểm cao điểm của nhiều ngành nghề, đặc biệt tại khu vực nông thôn. Các sản phẩm gắn với Tết như thực phẩm truyền thống, quà biếu, sản phẩm làng nghề hay dịch vụ du lịch trải nghiệm đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển.

Tuy nhiên, bài toán đặt ra không chỉ là tăng doanh thu trong một mùa, mà là làm sao để phát triển kinh tế Tết mà không làm rỗng giá trị văn hóa. Khi Tết bị thương mại hóa quá mức, các sản phẩm dễ trở thành hàng hóa thuần túy, mất đi chiều sâu văn hóa vốn là lợi thế lớn nhất.

Tại làng Tranh Khúc (Nam Phù), nơi nổi tiếng với nghề gói bánh chưng, nhiều hộ gia đình đã bắt đầu chú trọng hơn đến câu chuyện sản phẩm: nguồn nguyên liệu, cách làm, ý nghĩa của bánh trong đời sống Tết. “Khách hàng không chỉ mua bánh, họ hỏi về cách làm, về Tết xưa. Nếu làm nghiêm túc, Tết không chỉ là mùa bán hàng mà là nền tảng làm ăn lâu dài”. Bà Đặng Thị Thảo, một người làm nghề lâu năm, cho biết.

Bên cạnh sản phẩm vật chất, du lịch trải nghiệm Tết tại nông thôn đang mở ra một hướng đi mới. Những mô hình cho du khách tham gia gói bánh chưng, dọn dẹp nhà cửa, đón giao thừa theo phong tục truyền thống không chỉ tạo sinh kế, mà còn góp phần bảo tồn văn hóa sống.

Với người trẻ thành thị, đặc biệt là những người ít có ký ức về Tết làng quê, trải nghiệm trở thành cách hiệu quả để hiểu Tết bằng cảm xúc, thay vì chỉ qua sách vở hay hình ảnh. Khi được trực tiếp tham gia, họ dễ hình thành mối liên kết tự nhiên với truyền thống.

Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng, chủ mô hình du lịch nông nghiệp tại Thanh Trì, nhận xét: “Nhiều bạn trẻ rất tò mò về Tết truyền thống. Nếu tổ chức đúng cách, đây vừa là cơ hội kinh tế, vừa là cách để Tết tiếp tục sống trong đời sống hiện đại”.

Giữ Tết trong dòng chảy kinh tế hiện đại không phải là chọn giữa truyền thống và đổi mới. Đó là quá trình dung hòa: giữ những giá trị cốt lõi như sum họp, tri ân, khởi đầu; đồng thời linh hoạt trong hình thức tổ chức, tiêu dùng và sản xuất.

Tết không đứng ngoài kinh tế, nhưng cũng không nên bị hòa tan vào thị trường. Khi được nhìn nhận như một hệ giá trị văn hóa, Tết có thể trở thành điểm tựa tinh thần cho cá nhân, đồng thời là nguồn lực phát triển bền vững cho cộng đồng và nông thôn.

Tết Việt đang đi qua một giai đoạn chuyển hóa sâu sắc. Nó không mất đi, mà đang tìm cách ở lại trong một thế giới đã khác. Sự ở lại ấy phụ thuộc vào khả năng hiểu đúng, giữ đúng và đổi đúng của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng và doanh nghiệp. Khi điều đó xảy ra, Tết không chỉ tồn tại như một ký ức đẹp, mà tiếp tục là một phần sống động của đời sống Việt Nam hôm nay và mai sau.

Sáng kiến “tiết kiệm nghìn tỷ” cho ngành Nông nghiệp

Sáng kiến “tiết kiệm nghìn tỷ” cho ngành Nông nghiệp

(Tapchinongthonmoi.vn) - Sinh ra và lớn lên ở làng quê, không đành lòng trước cảnh được mùa mất giá, anh Lương Văn Trường, sinh năm 1990, ở xã Nghĩa Trung, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định đã quyết định thi vào Trường Đại học Đà Lạt theo học ngành Công nghệ sau thu hoạch và tốt nghiệp năm 2011. Ra trường, anh quyết định theo đuổi đam mê làm ruộng và đã có sáng kiến giúp tiết kiệm khoảng hơn 3.000 tỉ đồng cho ngành Nông nghiệp.

Bình Thuận: Làm giàu từ mô hình  trồng dâu nuôi tằm và nuôi chồn hương tại xã Đức Tín

Bình Thuận: Làm giàu từ mô hình trồng dâu nuôi tằm và nuôi chồn hương tại xã Đức Tín

Tại xã Đức Tín, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận đã có nhiều nông dân làm giàu từ các mô hình phát triển trồng trọt, chăn nuôi. Tiêu biểu có thể kể đến các mô hình của ông Phạm Văn Quyết với nghề trồng dâu nuôi tằm và ông Phạm Ngọc Bồi với mô hình nuôi chồn hương. Hiệu quả của 2 mô hình này đã khiến cho nhiều người đến học hỏi và làm theo.

Huyện Đức Trọng: Phấn đấu thu nhập bình quân của người dân khu vực nông thôn đạt gấp 2,5 - 3 lần

Huyện Đức Trọng: Phấn đấu thu nhập bình quân của người dân khu vực nông thôn đạt gấp 2,5 - 3 lần

Huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng sẽ hướng phát triển nền nông nghiệp đa giá trị mang lại hiệu quả kinh tế cao đến năm 2030, trong đó, phấn đấu giai đoạn 2025 - 2030 ngành Nông nghiệp huyện Đức Trọng đạt tốc độ tăng trưởng bình quân từ 6 - 6,5%/năm; thu nhập bình quân của người dân khu vực nông thôn đạt gấp 2,5 - 3 lần năm 2020; hình thành 10 chuỗi liên kết quy mô lớn đối với các mặt hàng chủ lực.